CÁC CẶP DƯỢC LIỆU THƯỜNG ĐI CHUNG VỚI NHAU

1-CẶP MA HOÀNG VÀ QUẾ CHI:

ma hoàng và quế chi

-Ma hoàng có vị cay, tính ôn, phát hãn, thông dương, tán hàn, trừ hàn tà ở dinh Quế chi có vị cay, tính ấm, giúp giải cơ, trừ phong tà ở vệ, hành dương, hoạt huyết, là thuốc khí trong huyết, có khả năng dẫn hàn tà trong huyết ra ngoài.

-Hai vị thuốc này tương tu tương sứ làm tăng hiệu quả tán hàn, phát hãn, ôn kinh, tuyên tý. Chúng thường được dùng để điều trị các chứng phong hàn cảm mạo, tý thống, và thủy thông

2-CẶP KINH GIỚI PHÒNG PHONG:

Kinh giới, Phòng phong có vị cay, tính ôn, có tác dụng giải biểu, khư phong, tán hàn, phối hợp giúp tăng hiệu quả. Chúng được dùng trong các chứng ngoại cảm phong hàn, với triệu chứng sợ lạnh, sốt, không có mồ hội, đau đầu, đau mình mẩy.

Ngoài ra, hai vị thuốc này còn có tác dụng khu phong ở phần cơ biểu, hỗ trợ điều trị các chứng ngứa da.

3-CẶP XUYÊN KHUNG BẠCH CHỈ:

Xuyên khung có tác dụng đi lên vùng đầu, là vị thuốc quan trọng để khử phong, hoạt huyết, chỉ thống.
Bạch chỉ có tác dụng khử phong, chỉ thống, dẫn xuyên khung vào kinh Dương Minh, chủ trị các chứng đau đầu thiên về một bên hoặc đau đầu kéo dài, tái phát lâu ngày không khỏi.

4-CẶP XUYÊN KHUNG THIÊN MA:

Thiên ma quy vào can, có tác dụng tức phong, thư can, chủ trị chứng can hư phong động gây chóng mặt.
Xuyên khung quy vào huyết, hành khí, giúp huyết hành thì phong tự tức, từ đó giảm đau đầu. Hai vị thuốc phối hợp có tác dụng bình can tức
phong, định huyễn chỉ thống, chủ trị các chứng chống mặt, đau đầu, tê bì chân tay do can phong bốc lên quấy nhiễu.

5-CẶP TÔ DIỆP HƯƠNG PHỤ:

Tô diệp có tác dụng tán hàn, giải biểu. Hương phụ có tác dụng lý khí, sơ uất.
Hai vị thuốc này phối hợp chủ trị chứng phong hàn kèm khí trệ, với các triệu chứng không có mồ hôi, sợ lạnh, đau tức toàn thân, ngực bụng đầy trướng. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng điều khí, an thai, dùng để trị chứng nôn nghén khi mang thai.

6-CẶP LIÊN KIỀU KIM NGÂN HOA:

Kim ngân hoa và Liên kiều đều có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, phối hợp giúp tăng hiệu quả.
Chúng chủ trị các chứng phong ôn với nhiệt tà ở cả biểu và lý. Ngoài ra, hai vị thuốc này còn có tác dụng lương huyết, giải độc, thường được dùng để điều trị các chứng ung nhọt, mụn nhọt do nhiệt độc.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *